Cũng một thời gian rồi mình mới đọc lại một tác phẩm về chiến tranh tuyệt vời thế này. Đa phần, mình sẽ né tránh các tác phẩm thuộc chủ đề này, vì mình sợ chiến tranh, sợ cảnh đầu rơi máu đổ, sợ chứng kiến cái chết cùng muôn ngàn nỗi đau mà con người gây ra với đồng loại. Đọc những hình ảnh đó làm mình thấy ám ảnh.

Thế nhưng, có một điều gì đó lôi cuốn mình đến với “Phía Tây không có gì lạ”. Mình biết đây là một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng về đề tài chiến tranh vì cũng đã từng đọc một vài review. Tuy vậy, một thời gian dài đằng đẵng mình chẳng đếm xỉa đến nó. Mãi cho đến bây giờ, khi đọc xong cuốn sách, mình đã không khỏi xuýt xoa rằng tại sao không đọc nó sớm hơn.

Đây là cuốn sách đã được nhiều người ngợi ca là “cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất viết về Đệ nhất Thế chiến”. Như tác giả đã viết ở lời tựa: “Cuốn sách này không phải là một bản cáo trạng, cũng không phải một lời thú tội. Nó chỉ cố gắng kể về một thế hệ đã bị chiến tranh hủy hại – cho dù đã thoát khỏi đạn pháo của chiến tranh.”

Đúng, nó chỉ kể lại một thế hệ đã bị chiến tranh băm vằm nát bét, không tương lai, không hy vọng, chỉ là một đám thịt nhão nhét ôm trong lòng bóng tối của chiến tranh. Câu chuyện không phê phán, không nhắn nhủ, không tuyên bố bất kỳ điều gì, nhưng qua từng hình ảnh, nỗi buồn chiến tranh lại khiến trái tim người đọc phải đau đớn.

Đối với mình, “Phía Tây không có gì lạ” hơn là một tiểu thuyết, hơn là một câu chuyện, mà là lời nhắc nhở mỗi người chúng ta về sự tàn bạo của chiến tranh, về nỗi kinh hoàng nó mang đến, và cái giá phải trả để có hòa bình là cái chết.

Tóm tắt nội dung

Câu chuyện theo chân chàng lính trẻ người Đức tên Paul gia nhập vào mặt trận phía Tây trong thế chiến thứ Nhất. Khi chưa đủ 18 tuổi, anh cùng 7 người bạn học cùng lớp khác đã đăng ký tình nguyện nhập ngũ để bảo vệ Tổ Quốc vì tin theo những lời mời gọi truyền cảm hứng về chiến thắng, về hòa bình dân tộc.

Thế nhưng, khi vừa đặt chân ra chiến trường, tất cả các chàng trai đều ngay lập tức bị vỡ mộng khi chứng kiến hàng loạt những viễn cảnh tang thương, khốc liệt. Những âm thanh của đạn pháo và trái phá vang lên liên tục ngày đêm. Những chiến hào nhơ nhớp và bẩn thỉu. Tệ hại hơn là cảnh những người đồng đội lần lượt ngã xuống. Có người chết ngay lập tức, thân xác bị bắn tan nát thành trăm vụn nhỏ. Có người còn sống nhưng vĩnh viễn mất đi một phần cơ thể. Có người may mắn lành lặn nhưng tâm hồn đã lở loét, người không ra người, thú không ra thú.

“Trong khi họ vẫn viết, vẫn nói, thì chúng tôi trông thấy những bệnh viện dã chiến và những người hấp hối… Trong khi họ gọi phụng sự quốc gia là điều lớn lao nhất, thì chúng tôi đã biết rằng nỗi sợ chết còn mạnh hơn.”

Paul, cùng những người đồng đội, đã rất may mắn thoát chết không biết bao nhiêu lần. Các anh, sau thời gian ra mặt trận, đã trở thành những người lính tài năng và thiện chiến, có kinh nghiệm chiến đấu dồi dào. Nhưng điều đó cũng không đủ để ngăn cản bóng tối phủ lấp vào trong lòng các anh. Vì đã chứng kiến người chết, người hấp hối, người thương tật, cùng cảnh tàn phá của bom đạn, họ chẳng tha thiết mong chờ điều gì.

“Hỏa lực tập trung, hỏa lực bắn chặn, lưới lửa, lưới mìn, hơi ngạt, xe tăng, súng máy, lựu đạn,… từ ngữ, chỉ là những từ ngữ, nhưng chúng chứa đựng tất cả sự khủng khiếp trên đời.”

Vì thế, họ cố gắng tận dụng những khoảng nghỉ ngắn ngủi để chơi đùa, bơi lội, hút thuốc, chửi thề và ngủ. Trái ngược với cảnh hoang tàn, tình đồng đội mọc lên như một đóa hoa tươi thắm, trở thành điểm tựa, nguồn an ủi cho những người lính khi họ phải đối diện với mặt trận.

Năm tháng qua đi, còn cuộc chiến dường như không có hồi kết. Quân đội Đức ngày càng kiệt quệ, còn quân đội đối phương thì trở nên đông đảo và hùng mạnh. Cứ thế, lính Đức liên tục bị kẻ địch triệt hạ. Họ bị bắn chết, tử nạn ngay trên chiến trường khốc liệt.

Chứng kiến sự ra đi của những đồng đội, trái tim của những người lính đã trở nên tê dại. Anh không còn suy nghĩ hay cảm nhận được gì nữa. Dù là tương lai, quá khứ, chiến tranh, hòa bình, hy vọng, tuyệt vọng, nỗi buồn hay niềm vui, tất cả như một tiếng vọng mơ hồ vang lên trong hư vô. Nó không còn ý nghĩa gì nữa. Với anh, cái chết là một sự giải thoát.

“Anh ta ngã chúi về phía trước và nằm dài dưới đất như đang ngủ. Khi lật anh ta lên, người ta thấy rõ anh ta đã không phải chịu đau đớn gì nhiều; gương mặt anh ta toát lên một vẻ bình thản đến mức có thể nghĩ anh ta gần như hài lòng về cái kết cục như vậy.”

Thông điệp và cảm nhận

1. Trước khi là một người lính, họ cũng đã từng là người.

Trong những cuốn sách về chiến tranh đã đọc, khá ít các cuốn khắc họa sâu sắc và chi tiết về đời sống người lính như “Phía Tây không có gì lạ”. Những cuốn đó thường mang góc nhìn từ những người dân thường, căng mình hứng chịu sự tàn bạo của chiến tranh làm đảo lộn toàn bộ cuộc đời của họ.

Trong cuốn này, tác giả đã chọn hình ảnh những người lính, dựa trên chính trải nghiệm cá nhân, để cho chúng ta thấy, lính cũng chỉ là người, và cũng bị chiến tranh tác động. Họ cũng yếu đuối, cũng mỏng manh. Họ cũng biết khóc và sợ chết, y như bất kỳ người nào. Họ là những con chó khốn khổ bị chính quốc gia mình lợi dụng, để đi ra chiến trường và choảng nhau với những người không thù không oán.

Như cậu lính Kropp nói rằng: “Trước khi đến đây , tớ chưa từng gặp một người Pháp nào, và phần đông người Pháp cũng chẳng biết gì về người Đức chúng ta. Ý kiến của họ cũng không được đếm xỉa đến như ý kiến của chúng ta.” Thật sự, người lính chỉ là những con cờ của những nhà cầm quyền. Họ căm ghét nhau và ra lệnh cho người dân vô tội chém lẫn nhau.

2 ảnh đặc biệt làm cho mình ấn tượng đó là cảnh Paul đâm chết một kẻ địch dưới hố bom sau đó lại ra sức cứu và cầu xin tha thứ và cảnh Paul chứng kiến những tù nhân Nga. Thật sự, họ cũng chỉ là người bình thường y như nhau. Nông dân Đức cũng như nông dân Nga. Lính Đức cũng như Lính Pháp. Paul có lúc đã thốt lên rằng:

“Hãy tha thứ cho tôi, bạn ơi! Bao giờ chúng tôi cũng nhìn ra sự việc quá muộn màng. Tại sao người ta không nhắc đi nhắc lại cho chúng tôi biết, rằng các cậu cũng chỉ là những con chó khốn khổ như chúng tôi, rằng những bà mẹ của các cậu cũng sợ hãi cho con mình như những bà mẹ của chúng tôi, rằng chúng ta đều sợ chết như nhau, đều chết một cách giống nhau và chịu đựng những nỗi đau đớn như nhau…”

Ôi, chúng ta là đồng loại của nhau, cũng có một trái tim và hai con mắt. Cớ sao lại chém giết nhau chẳng vì lý do nào. Hình ảnh đó hiện lên khiến mình thấy thật đau lòng vì sợ khủng khiếp của chiến tranh, và tư tưởng ích kỷ và kiêu ngạo của nhà cầm quyền. Vì những thù hằn riêng, họ hy sinh chính người dân của họ.

2. Những người lính trẻ – hoa chưa nở đã lụi tàn

Tác giả đã dành rất nhiều ngôn từ để diễn tả điều này: Một thế hệ điêu tàn vì chiến tranh.

“Phải, họ nghĩ vậy đấy, họ nghĩ vậy đấy, hàng trăm ngàn cái lão Kantorek ấy! Tuổi trẻ sắt gang. Tuổi trẻ! Tất cả chúng tôi đều chưa quá tuổi đôi mươi. Nhưng mà trẻ ư? Tuổi trẻ sao? Cái đó qua từ lâu rồi. Chúng tôi là những ông già.”

Họ là những ông già vì họ ở gần cái chết hơn là sự sống, mặc dù cuộc sống của họ chỉ vừa chớm nở. Trước khi được tận hưởng tuổi trẻ bên những ước mơ, họ dành trọn thanh xuân nơi chiến trường. Trước khi được đắm chìm vào tình yêu đầu thuần khiết, họ đắm chìm vào bom đạn, sình lầy và máu. Trước khi được vui chơi cùng bạn bè, họ phải ôm xác đồng đội mình trên tay.

Quá nhiều hình ảnh khủng khiếp, quá nhiều những ký ức kinh hoàng đã xé nát tâm hồn của những cậu thanh niên. Họ không có ước mơ, không có hoài bão, không có hy vọng. Như cậu bạn Muller đã hỏi: “Albert, cậu sẽ làm gì, nếu bây giờ bỗng nhiên hòa bình được lập lại?” thì Albert đã trả lời rằng: “Làm gì có hòa bình.” Họ từ lâu đã chẳng tin rằng một ngày nào đó, họ sẽ thoát khỏi chiến tranh.

“Chúng tôi đâu còn là lớp trẻ. Chúng tôi không muốn xông vào thế giới này nữa. Chúng tôi là những kẻ chạy trốn. Chạy trốn chính mình. Chạy trốn cuộc đời. Chúng tôi từng ở tuổi mười tám, từng bắt đầu yêu thế giới và yêu cuộc đời; vậy mà chúng tôi đã phải bắn vào nó. Quả tạc đạn đầu tiên nổ đã rơi trúng trái tim chúng tôi. Chúng tôi đã bị khóa kín trước hành động, nỗ lực và tiến bộ. Chúng tôi không còn tin vào mấy thứ đó; chúng tôi tin vào chiến tranh.”

Khi đọc những dòng này, mình thấy đau khổ rất nhiều. Người ta luôn nói rằng “20 là độ tuổi đẹp nhất của đời người”, nhưng những cậu trai đó lại chẳng được diễm phúc như thế. Họ bị đẩy vào chốn hư vô, nơi quá khứ chỉ là dĩ vãng, còn tương lai thì quá khó để nắm bắt. Vì thế, họ thấy cô đơn và lạc lõng, không thể hiểu được ai, và cũng không ai hiểu được.

Và cũng vì thế, họ bám víu vào chiến trường, vào những anh em đồng đội để cố gắng. Rồi khi lần lượt từng người ngã xuống, kéo theo luôn ánh sáng của những ai ở lại. Họ chới với, họ quằn quại, họ bị bỏ rơi. Họ dần chìm vào bóng tối để rồi mất kết nối với cuộc đời.

“Chúng tôi bị bỏ rơi như những đứa trẻ chơi vơi, và thạo đời như những ông già; chúng tôi thô lỗ, u sầu và hời hợt… tôi nghĩ rằng chúng tôi đã hỏng bét.”

Điều này giải thích vì sao người lính sau khi trở về thường trở nên câm lặng và không thể tái hòa nhập cộng đồng. Người ta có thể giải thích rằng họ bị PTSD, họ bị rối loạn căng thẳng, họ đau đớn về thể xác. Nhưng có cách giải thích đơn giản hơn, họ đã bị chiến tranh nuốt chửng, mãi mãi không thể thoát được.

3. Chiến tranh thì ở đâu mà chẳng giống nhau

Khi đọc câu chuyện này, dù lấy bối cảnh thế chiến thứ Nhất, nhưng mình cũng nghĩ đến những cuộc chiến tranh khác như là Thế chiến thứ Hai, chiến tranh Việt Nam, và cả những cuộc chiến đang diễn ra ngay bây giờ.

Dù thời thế khác nhau, kỹ nghệ quân sự khác nhau nhưng nỗi đau thì cũng y hệt như vậy. Vẫn là những người lính chôn mình dưới các chiến hào. Vẫn là những giấc ngủ chập chờn. Vẫn là những bữa ăn trong lo sợ. Vẫn là nỗi mất mát thấu tim gan khi chứng kiến đồng đội mình ngã gục. Vẫn là những cuộc đời bị băm vằm nát bét khi còn chưa kịp trưởng thành.

Chừng nào còn chiến tranh, nỗi đau của những cậu chàng Paul, Albert, Muller, Leer, Tjaden, Haie, Deterring, Kat vẫn ở đó và đang tiếp diễn ở một con người khác, một thân phận khác, một dân tộc khác.

Nhưng mấy ai để ý đến những mảnh đời đáng thương đó. Người ta chỉ quan tâm đến những con số thống kê. Họ so sánh cả 2 với nhau, cho rằng quốc gia A ít tổn thất hơn quốc gia B hay ngược lại, dựa trên số lượng binh sĩ tử nạn.

Mình đọc điều đó mà đau thót lại cả tim khi thấy mạng người, những người bằng xương bằng thịt bị bắn tan nát trong chiến tranh, đến tên tuổi, xương cốt còn chẳng rõ. Thế mà lại biến thành một con số vô tri vô giác, rồi so đo nước này có ít anh chết hơn nước kia. Mạng người nào mà chẳng như nhau. Chẳng lẽ có ai trong số họ không phải người hay sao chứ?

Nhưng đó là sự thật mà ta buộc lòng chấp nhận. Chiến tranh cũng đã diễn ra, và họ cũng đã chết. Ta chỉ có thể tưởng nhớ họ dưới số lượng người thiệt mạng để rồi rút kinh nghiệm cho thế hệ tương lai mà thôi. Đau lòng là vì thế.

Mình có đọc trong một tài liệu trên mạng, nói rằng: “Vấn đề chiến tranh và hòa bình là vấn đề chung của cả thế giới”. Chiến tranh không loại trừ bất cứ ai hay quốc gia nào, và nó hủy diệt mọi thứ trên đường đi của nó. Vì vậy, tác phẩm đã nhắn nhủ chúng ta một nhiệm vụ: Phải bảo vệ hòa bình bằng hết sức của mình.

Chiến tranh được sinh ra từ mâu thuẫn, mâu thuẫn nhỏ kéo theo mâu thuẫn to. Vì thế, nén lại một lời cãi vã, nhịn lại một cục tức, tha thứ cho người có lỗi với mình là những hành động cụ thể mà mỗi người có thể làm để giữ hòa bình ở quy mô bản thân, gia đình. Và nếu càng có nhiều quyền lực, điều đó càng quan trọng.

Kết luận

Nói chung, “Phía Tây không có gì lạ” là một kiệt tác viết về chiến tranh, vô cùng đáng đọc. Mình xin gửi lời cảm ơn đến cho tác giả Erich Maria Remarque vì đã tạo nên một câu chuyện xuất sắc và dịch giả Vũ Hương Giang vì đã mang đến cho độc giả Việt Nam tác phẩm tuyệt vời này.

Cách sử dụng ngôn từ của bà rất điêu luyện và gợi hình gợi tả đã biến những cảnh miêu tả chiến trường khốc liệt, và cả những biến đổi về mặt tâm lý nhân vật trở nên vô cùng “thấm” và đầy cảm xúc. Ngoài ra, những đoạn miêu tả cảnh bạo lực, máu me và vết thương của người lính khá ám ảnh và rợn người. Mình đọc mà phải rùng mình mấy lần.

Nhưng nói gì thì nói, đây là một tác phẩm đáng đọc. Đọc để hiểu về chiến tranh, và những gì nó đã mang lại cho con người.

Núi.